ÂN SỦNG TRONG TẠO DỰNG

29/08/2017,10:19:47 | 317 | 0

                                                                                                                                                                

ÂN SỦNG TRONG CÔNG TRÌNH TẠO DỰNG

Gioan B. Phạm Xuân Thanh Ofm

I.          GIỚI THIỆU

Trong cuộc sống đời thường con người thường buông mình theo dòng chảy của xã hội hoặc xã hội văn hóa đã trói buộc con người trong một số chiều hướng nào đó. Bởi thế phần lớn con người không ngước mắt lên để thấy mình đang ở đâu mà cứ lao mình như những con thoi trong đêm tối của kinh tế vật chất. Tuy vậy trong chốc lát nào đó của cuộc sống mỗi người cũng có dịp dừng bước ngước mắt lên và thấy mình đứng trước một thế giới rộng lớn mênh mông. Trời đất hài hòa hùng vĩ và trật tự đến lạ lùng; muôn vật sinh sôi nảy nở đầy sức sống và thật kỳ diệu; con người lại vượt trổi trên muôn vật với những khả năng và tự do thật huyền nhiệm. Trước sự ngỡ ngàng về vũ trụ và con người hầu hết mọi người đều nhận ra cách minh nhiên hay một sự thấu hiểu nào đó không diễn tả được về Đấng đã tạo dựng nên chúng. Đấng ấy không chỉ tạo nên mà còn tiếp tục bảo tồn mọi sự cho chúng tiến lên đến với Thiên Chúa. Với cái nhìn trên người Công Giáo đã được mặc khải cho biết đó là ân sủng của Thiên Chúa là tình yêu trao ban rất lớn lao và lạ lùng trong công tình tạo dựng trời đất.

II.         KHỞI ĐẦU CÔNG TRÌNH TẠO DỰNG

1.         Thiên Chúa Đấng sáng tạo

Có những ý tưởng về Thiên Chúa như Ngài là đấng vô thủy vô chung Đấng cao cả tối hậu tư tưởng con người không sao thấu nổi. Ý tưởng này về Thiên Chúa dễ làm con người nghĩ rằng Thiên Chúa như một Đấng hoàn toàn xa cách không ăn nhập gì đến cuộc sống của tôi. Hoặc con người thấy Thiên Chúa như một Đấng cao cả ở nơi ấy Ngài nhìn thấy con người như những con kiến bé nhỏ cứ bon chen những sự nhỏ nhoi trong cuộc đời một cách vô định tức cười. Điều này con người có thể xem Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng con người và thế giời sau đó thì để mặc bàng quang xem chúng diễn tiến còn Ngài thì không đếm xỉa gì đến hậu vận của chúng.

Với đức tin chân chính của người Công Giáo chúng ta được mặc khải của Đấng Ngôi Hai Con Thiên Chúa từ trời mà đến. Rằng Ngài rất cao cả chí thánh chí thiện đầy vinh quang tự chính Ngài. Mặt khác Ngài là một Người Cha nhân hậu yêu thương con người và mọi thọ tạo như người con đích thực của mình; Ngài cũng đau lòng khi thấy con mình bước đi trong lầm lạc và lên đường tìm kiếm như người mục tử nhân lành đi tìm con chiên lạc đàn. Ngài cũng như một người cha chờ đợi đứa con của mình bỏ nhà ra đi. Thực ra Thiên Chúa luôn ở bên con người sát cánh trong mọi đường đi nước bước của con người và các tạo vật khác dù chim sẻ hoa huệ hay những sợi tóc trên đầu cũng được Thiên Chúa để ý đến rồi. Như vậy Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ với quyền năng và tình yêu cao cả của mình.

2.         Ý hướng tạo dựng của Thiên Chúa

Thiên Chúa không sáng tạo vũ trụ vì sự ở nhưng của mình hay vì ngẫu hứng hoặc do nhu cầu. Nhưng Ngài tạo dựng chỉ vì tình yêu. Bởi vì "trong Đức Kitô Ngài đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ". Ngài đã chọn con người để cứu độ con người và Thiên Chúa đã thấy điều đó trước khi tạo thành vạn vật. Điều cao cả của công trình tạo dựng là Thiên Chúa đã lấy hình ảnh của mình mà dựng nên con người. Hơn nữa Ngài lại ban cho con người có đầy đủ tự do trong các lựa chọn của mình. Thiên Chúa không ôm lấy điều mình làm nên nhưng lại ban tất cả cho con người giao phó cho con người trông coi mọi sự. Cũng vì tình yêu mà Thiên Chúa không tách mình ra khỏi vạn vật nhưng Ngài tiếp tục vận hành và ban cho con người khả năng để xây dựng công trình của Thiên Chúa ngày thêm tốt đẹp hơn.

III.        THIÊN CHÚA TẠO DỰNG MUÔN VẬT MUÔN LOÀI

1.         Thời gian và không gian

Theo các nhà khoa học hiện nay thuyết Bigbang là một giả thuyết thuyết phục hơn cả trong việc giải thích về sự khởi đầu của vũ trụ. Theo thuyết lượng tử của Einstan và thuyết về không thơi gian cong mà Stephan Harking đã khai triển thì trước vụ nổ Bigbang là một bức tường băng lý trí con người không thể suy tư được điều gì trước đó. Điều này chắc hẳn hợp với trình thuật về sáng tạo của Kinh Thánh rằng từ hư vô hỗn độn Thiên Chúa phân tách trời - đất đêm tối - ánh sáng nước - cạn... Như thế trước khi phân tách trời đất ánh sáng và bóng tối thì vũ trụ chưa có chưa có không gian và thời gian. Trong sự hỗn độn ấy là gì làm sao con người suy tư được. Cũng vậy S.Harking suy tư từ các lỗ đen để gải thích trước bigbang như một sự co cụm đến cùng cực. Và trước đó là gì như thế nào thì không ai có thể suy tư được một tí gì. Vì không thuộc về không-thời gian nên Thiên Chúa vĩnh hằng tồn tại và sự tồn tại ấy cũng không thể gọi là vĩnh hằng vì "vĩnh hằng" còn mang chút gì của không-thời gian. Mà Thiên Chúa là Thiên Chúa của hôm nay.

Như các nhà thần học nói Thiên Chúa có hai lần sáng tạo lần sáng tạo thứ nhất là sinh ra Ngôi Lời. Từ Ngôi Lời Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ. Trong vũ trụ Thiên Chúa mở ra một không-thời gian có sự diễn tiến. Diễn tiến của vạn vật theo một quy luật mà Thiên Chúa đã định sẵn trong đó muôn vật sinh sôi nảy nở cho đến tận cùng và đầy sung mãn của Thiên Chúa. Không một sự sinh sôi nảy nở nào vượt ra ngoài không gian và thời gian. Vì thế thời gian và không gian như là một mãnh lực cuốn hút mọi sự trôi theo. Chúng làm cho vạn vật lớn lên rồi tàn phai; cái sau tiếp nối cái trước cứ thế các hữu thể khác nhau lần lượt xuất hiện rồi biến đi. Cũng vậy con người xuất hiện rồi lại ẩn đi. Dù chỉ một lần xuất hiện nhưng khi mất đi không có điều gì có thể qua đi trong Thiên Chúa. Chúng qua đi nhưng sự cứu cánh của một hữu thể đã đưa chúng vào sự vĩnh hằng. Sự xuất hiện của một vật đều có một mục đích mà chỉ có Thiên Chúa nhận thấy. Có lẽ các mục đích của muôn vật Thiên Chúa đều đặt chúng trong sự tương quan với con người. Vì con người mang hình ảnh của Thiên Chúa nên mỗi lần con người xuất hiện và tàn đi thì lại thêm một hình ảnh mới một hữu thể mới và tồn tại vĩnh hằng với Thiên Chúa và trong Thiên Chúa. Như thế không - thời gian là một phương thế mà Thiên Chúa đặt ra để mọi sự Thiên Chúa tạo dựng ban đầu được phát triển ngày thêm nhiều và hoàn thiện hơn.

2.         Sự vật

Sự vật là mọi hữu thể vật chất xuất hiện trong không gian và thời gian. Chúng không tự mình mà có nhưng ý định sáng tạo của Thiên Chúa đã làm nên chúng. Dẫu không - thời gian khí quyển đất đá sinh vật động vật và con người đều mang trong mình tính vật gọi là vật chất nhưng bên trong chúng lại mang cái gì khác siêu hình. Vật chất thì mang muôn màu muôn vẻ thể loại. Không những thế chúng có thể từ vật này lại chuyển thành vật khác từ trạng thái này lại chuyển thành trạng thái khác. Hơn nữa mỗi một tổ chức khác nhau của vật chúng lại mang một tinh thần mới một linh thể mới.

Con người mang tính xã hội chúng ta sống trong môi trường nào tổ chức nào thì mang tinh thần của môi trường và tổ chức ấy. Có thể kể đến các tổ chức như các dòng tu chẳng hạn. Lẽ dĩ nhiên tinh thần đầu tiên có thể do một người hoặc một nhóm người tinh thần ấy được đưa ra để tập hợp con người tham gia. Ai đi vào trong nhóm được tập hợp ấy thì mang lấy và thể hiện nét đặc trưng của một tinh thần. Khi người khác nhìn vào một người hoặc một nhóm người ta có thể nhận ra người đó nhóm đó thuộc về tinh thần của Dòng tu nọ. Chúng ta có thể kể đến những nhóm bạn băng đản xã hộ chẳng hạn chúng đều mang một tinh thần chung mà nhóm đã tự quy định hay tự hình thành. Nếu một tổ chức bị tan rã các phần tử sẽ bung ra riêng lẻ. Khi gặp môi trường mới một hoặc nhiều cá nhân đã bị tan rã ấy lại kết hợp với nhau cùng với các phần tử mới chúng lại mang một tinh thần mới trong một tổ chức mới.

Cũng thế đối với các tổ chức vật thể khác chúng cũng liên kết với nhau bởi một động lực nào đó tuỳ theo cách sắp xếp khác nhau của các phần tử mà tạo nên những vật thể khác nhau. S.Harking viết  trong cuốn "Vũ Trụ Trong Vỏ Hạt Dẻ" cho thấy các phần tử đầu tiên của vũ trụ ngay sau vụ nổ bigbang chúng chỉ là những hạt Proton nơtrong electron. Khi gặp môi trường mới (áp lực nhiệt độ thời gian) chúng tự liên kết tương tác và biến đổi qua thời gian nên đã trở thành vũ trụ như ngày nay. Với cái nhìn đức tin chúng ta cũng thấy có một sự tương hợp nào đó giữa khoa học và tôn giáo. Với những kẻ tin chúng ta tin có một thực thể tối hậu đã tự mình tồn tại và từ Ngài ánh sáng và bóng tối được phân tách tương đương với sự xuất hiện proton nơtron electron. Sau đó trời đất được hình thành tức là có sự chuyển vận trật tự của vũ trụ. Như đã viết trên về các tổ chức của con người đều mang trong đó một tinh thần thì các tổ chức của vật thể vũ trụ cũng có một sợi dây vô hình nào đó. Chính sợi dây vô hình như một tinh thần ấy đã làm cho các tổ chức vật thể thành có ý nghĩa và có mục đích của sự hiện hữu và tồn tại. Thực ra chúng chỉ có ý nghĩa khi được nhìn trong sự tương quan vì không một thụ tạo nào tự mình tồn tại nhưng tồn tại "bởi" và "cùng với". "Bởi" nếu xét về nguồn gốc là Thiên Chúa nếu xét dưới khía cạnh lịch sử là biến đổi và sinh thành từ cái trước sinh cái sau. "Cùng với" dưới cái nhìn hạn hẹp cho thấy một cá thể vật chất tồn tại thì trong chúng đã có nhiều cá thể khác cấu thành nên. Đàng khác để cấu thành nên chúng những cái gì khác bên ngoài phải rất phong phú mới có thể hợp thành một cá thể mới cho dù biến chuyển từ cái này sang cái khác cũng phải lệ thuộc vào rất nhiều điều kiện khác. Với tầm nhìn rộng hơn thì động từ "cùng với" có thể nói là điều làm cho chúng tồn tại. Điều tồn tại thì bao quát tất cả mọi sự kể cả không-thời gian. Tồn tại như một mãnh lực của sự dịch chuyển lực ấy tác động vào vũ trụ và thúc đẩy mọi sự trôi đi không chỉ trôi đi trong không-thời gian nhưng còn trôi đi trong thế giới của ý thức. Như thế điều làm cho tồn tại là gì? Chính trong Đức Kitô Thiên Chúa đã sáng tạo vũ trụ và bảo tồn mọi sự trong Lời của Người. Vì mọi sự được bảo tồn trong Thiên Chúa nên mọi sự xuất hiện của mọi vật thể khả giác đều mang lấy dấu ấn của Thiên Chúa. Vì thế mọi sự khả giác không có gì là xấu trong cái nhìn đức tin. Dẫu rằng chúng sinh-diệt cũng là tiếp nối công trình tạo dựng của Thiên Chúa mà thôi.

Vậy mọi sự hiện hữu và tồn tại trong vũ trụ đều nằm trong tương quan với Đức Kitô thế nhưng Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ không phải cho mình mà chỉ vì yêu thương mọi loài thọ tạo mà Ngài dựng nên vũ trụ mà thôi. Hơn thế nữa Thiên Chúa đã lấy hình ảnh của mình mà dựng nên con người một loài thụ tạo được Thiên Chúa yêu mến đến nỗi Ngài còn gởi Người Con duy nhất của mình sinh xuống làm người trong vũ trụ. Để từ đó Thiên Chúa đưa vũ trụ trở về với Ngài trong vinh quang.

3.         Con người

Trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa theo cái nhìn của con người chúng ta thấy có một số cấp độ trong công trình tạo dựng. Sự vật chung: thuỷ hoả kim mộc thổ. Sự vật này được đánh giá là thấp nhất nhưng đó lại là chất căn bản để cấu thành vạn vật. Kế đến là sinh vật: gồm mọi loài có sinh khí trong vũ trụ chúng đều mang chung sự sống tức là có sinh hồn. Động vật: mẫu số chung của động vật là gồm những loài có giác quan chúng được Thiên Chúa phú ban cho có sinh hồn để sống và giác hồn để nhận biết. Cuối cùng là con người loài người mang trong mình đầy đủ mọi tinh túy nhất của vũ trụ đồng thời có sinh hồn giác hồn như sinh vật và động vật. Điều cao quý nhất của con người là linh hồn. Linh hồn là thực thể trung gian giữa trời và đât giữa vũ trụ được tạo thành và với Đấng Tuyết đối hằng hữu. Bởi vì con người được dựng nên từ chất liệu của vũ trụ và mang lấy hình ảnh của Thiên Chúa.

Sau công trình tạo dựng vũ trụ Thiên Chúa đã sáng tạo con người theo hình ảnh của mình. Tức là Thiên Chúa đã làm nên một loài thụ tạo mới trong vũ trụ nhưng lại thổi vào chúng phần thiêng liêng như Thiên Chúa. Nên con người đã trổi vượt lên trên mọi loài thụ tạo khác trên mặt đất và trong toàn cõi vũ trụ. Chính vì thế con người đã trở nên một phần giống với Thiên Chúa. Đến ngày Con Thiên Chúa trở nên một phàm nhân tức là mang thân phận mỏng dòn như con người để những ai tin thì được cứu độ. Từ đó Thiên Chúa đã làm cho con người trở nên giống như Thiên Chúa.

4.         Tương quan

Không-thời gian sự vật và con người trong công trình tạo dựng là do một tình yêu ban phát cách nhưng không mà Thiên Chúa muốn thể hiện. Chính vì vậy muôn vật muôn loài trong vũ trụ luôn luôn có sự tương quan mật thiết với nhau cho dù vật cao cấp hơn hay thấp kém hơn cũng góp phần rất quan trọng cho vũ trụ và sự tồn tại của nó. Thiên Chúa tạo dựng nên chúng Ngài lại còn ôm ấp chúng trong tình yêu bao la của mình. Chính nhờ hơi thở của Ngài mà muôn vật có sự sống được dưỡng khí. Và sự sống chính là Chúa. Vì thế nhìn thấy sự sống là nhìn thấy Thiên Chúa hiện diện cách nào đó trong vũ trụ.

Với thân phận phàm nhân không ai chối được nơi mình sinh ra. Phận người sinh ra từ vật chất tính người sinh ra từ Thiên Chúa. Vì thế con người nhìn thấy mình nơi các tạo vật khác đồng thời cũng nhìn thấy mình nơi Thiên Chúa cách sâu thẳm và huyền nhiệm.

Trong tương quan với mọi loài thọ tạo con người phải nhận nơi đó là những thực thể đã sinh ra trước mình. Vì Thiên Chúa đã tạo dựng muôn loài trước và thấy là tốt đẹp nhưng rồi Ngài lấy một phần những tinh hoa của sự vật ấy mà tạo nên con người. Bởi thế con người phải cảm tạ Thiên Chúa vì sự hiện diện của muôn loài trong vũ trụ. Dù là sỏi đá hay cát bụi dù là cỏ cây hoa mầu hay các loài côn trùng muôn thú. Tất cả sự hiện diện của vạn vật đều mang lại một sự linh thiêng mà Thiên Chúa đã thể hiện mình trong đó. Con người cần đi vào tương quan với sự vật bằng tình yêu như Thiên Chúa đã yêu. Những sự vật ấy vẫn hiện hữu trong mỗi con người chính nó đã góp phần làm nên con người chúng ta. Không chỉ có con người mới mang lấy một phần Thiên Chúa trong mình nhưng toàn thể vũ trụ cũng đã nhận lấy linh hồn của Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa đã thổi linh hồn là sự sống của mình vào vũ trụ và làm cho vũ trụ tràn đầy sức sống của Thiên Chúa. Và Thiên Chúa đã lấy mô mẫu là Ngôi Lời mà tác thành vạn vật. Do đó vạn vật cũng trở nên rất linh thánh cách nào đó có lẽ ở mặt tương quan với con người. Trong tương quan với vạn vật Chế Lan Viên để lại cho đời một kinh nghiệm của sự gặp gỡ với vạn vật như sau: "Khi ta ở đất chỉ là nơi ở khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn". Đất cũng có tâm hồn hay đó là tâm hồn của ta. Nếu là tâm hồn ta cớ sao lại hướng về "đất" ấy; Nếu là hồn của đất cớ sao lại ở trong ta. Chúng ta chỉ giải thích được khi đặt mình trong sự tương quan mà thôi. Nếu đó là một tương quan tốt thì tâm hồn của hai thực thể gặp nhau. Tâm hồn của vật không phải tự vật ấy mà có nhưng chúng có hồn khi nhìn trong tương quan với Đấng đã cho chúng hiện hữu. Trong tương quan với vạn vật trong vũ trụ thánh Phanxico Assisi đã gặp gỡ Thiên Chúa trong Thiên Chúa với con người con người với con người và con người với mọi loài thụ tạo. Bởi thế ngài đã trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô ngài gọi đồng loại là Đức Kitô ngài gọi mọi loài thọ tạo như đồng loại với mình. Thế nên khi nhìn ngắm và tương giao với vạn vật ngài gọi anh mặt trời chị mặt trăng chị nước chị gió anh chị chim trời. Kể cả những bức tường nhà ngài coi như con người khi cho những bức tường ăn trong dịp mừng lễ Chúa giáng trần. Với một tình trạng siêu hình Phanxico cũng tương giao như con người trước giờ chết ngài gọi chị chết đến với mình. Như vậy Phanxico có tương quan mật thiết với Thiên Chúa nên ngài mới có thể gọi mọi loài trong trời đất là anh là chị cách rất thân thương như những người trong gia đình mình vậy. Cũng vậy mọi người còn sống trên mặt đất ai cũng có thể nhận thấy Thiên Chúa nơi cuộc đời của mình nơi tha nhân và cũng có thể nhận thấy Thiên Chúa nơi mọi loài thọ tạo. Thiên Chúa đã thể hiện nơi mọi loài thụ tạo như thế chúng ta chỉ có thể giải thích được khi xét mọi sự dưới khía cạnh tình yêu bao la của Ngài mà thôi.

V.        KẾT LUẬN

Đứng trước công trình tạo dựng của Thiên Chúa con người chỉ biết ngỡ ngàng thán phục và chúc tụng Đấng là chủ và là nguồn gốc của vũ trụ. Tuy nhiên đó chỉ là bước đầu của suy tư và khám phá vũ trụ. Với lý trí và tự do được Thiên Chúa ban cho con người con người cần nhận biết Thiên Chúa từ nhân tâm cá vị từ mọi hữu thể khác trong vũ trụ và từ mặc khải của Đức Giêsu. Để rồi con người đi vào chiều kích tương quan cá vị với Thiên Chúa vì Ngài là Ngài vì Ngài hiện hữu nơi con người và vì dấu ấn của Ngài cho thấy Ngài hiện hữu trong vũ trụ. Sự tương quan ấy được biểu lộ bằng tình yêu thương yêu như Thiên Chúa đã yêu. Tình yêu của Thiên Chúa là tạo nên vũ trụ và có sự sống trong đó. Ngài còn đi vào vũ trụ trong thân phận một thụ tạo là trở nên một phàm nhân sống dưới lề luật. Vì yêu mà Con Thiên Chúa lại phải chịu đau khổ và chịu chết cho vũ trụ. Khi sinh thành trong vũ trụ Thiên Chúa lại trở về trong vinh quang của Ngài đồng thời Ngài mang theo mọi sự trong trời đất trở về với Thiên Chúa trong vinh quang. Lúc bấy giờ vạn vật không còn mang lấy sự hữu hạn trong thân phận yếu đuối nữa nhưng là trở nên hằng hữu như Thiên Chúa trong trời mới đất mới. Như vậy vạn vật được tạo dựng này thì hữu hạn nghĩa là phải tiêu vong phải trở về tính không để sinh lại trong trời mới đất mới trong một cuộc tạo dựng mới cuộc tạo dựng ấy lại còn tốt đẹp hơn cuộc tạo dựng này là biết bao.


video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích